|
Đa số người VN biết Huế không
chỉ vì Huế có nhiều cảnh đẹp , có nhiều di
tích lịch sử như đền đài , lăng tẩm , thành
quách cổ kính mà còn vì những bài thơ trữ
tình của các thi nhân nổi tiếng , những câu
hò êm ái đượm tình quê hương và nhất là
những bản tân nhạc ca tụng xứ Huế thơ mộng
đã được phổ biến đến khắp mọi miền trên đất
nước . Có những người chưa bao giờ đặt chân
đến Huế nhưng qua các bài hát lại thuộc lòng
tên những danh lam thắng cảnh của đất cố đô
như sông Hương , núi Ngự , cầu Trường Tiền
, chùa Thiên Mụ , đài Nam Giao , thôn Vĩ Dạ
vv… Huế là cái nôi văn hóa của miền Trung ,
là nguồn cảm hứng của các văn nhân , nghệ sĩ
, là nơi dừng chân của các tao nhân mặc
khách . Người ta biết đến Huế nhiều nhưng ít
ai biết đất cố đô đã sản sinh ra bao nhiêu
nhạc sĩ sáng tác tài hoa . Khi người Pháp
đặt chân lên đất nước VN họ mang theo vào cả
nền âm nhạc Tây phương và đem truyền bá
trong dân chúng . Những nhạc sĩ của đất
Thần Kinh cũng dần dần làm quen với ký âm
pháp phương Tây và từ đó các nhạc sĩ sang
tác tân nhạc đầu tiên ra đời .
1 - NHẠC SĨ NGUYỄN VĂN
THƯƠNG
Người nhạc sĩ tiền phong của
nền tân nhạc VN ở cố đô Huế là nhạc sĩ
Nguyễn Văn Thương . Ông sinh ngày 22 - 05 –
1919 và mất ngày 06 – 12 – 2002 tại
Saigon , hưởng thọ 84 tuổi . Ông sinh ra
trong một gia đình yêu thích âm nhạc . Năm
lên 9 tuổi ông bắt đầu học đàn nguyệt sau
đó qua sách vở của người Pháp ông tự học ký
âm pháp . Năm 1936 ông tốt nghiệp bậc trung
học tại trường Khải Định Huế và cũng năm này
ông sáng tác bản nhạc đầu tay “ Tiếng sông
Hương ” là bài tân nhạc đầu tiên của xứ Huế
. Lúc ấy ông mới 17 tuổi nhưng tên của ông
đã bắt đầu đi vào làng âm nhạc VN . Năm
1939 ông lại cho ra đời bản
“Đêm đông ” là một kiệt tác
của tân nhạc VN thời bấy giờ . Bài hát với
nét nhạc trữ tình êm ái tiềm ẩn một nỗi buồn
man mác , lời ca trau chuốt , mượt mà , đã
đi vào lòng người VN qua bao thế hệ . Nữ ca
sĩ Bạch Yến là người hát bài “Đêm đông ”
hay nhất . Bài ca này lúc đầu được viết theo
thể điệu Tango nhưng khi Bạch Yến trình diễn
thì chuyển qua Slow Rock nghe hay hơn .
Trong thập niên 60 cô cũng đã trình bày
nhạc phẩm này trong sô Ed Sullivan của Mỹ .
Năm 1942 nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương sang tác
thêm ca khúc “ Bướm hoa ” cũng được nhiều
người ưa thích nhưng không bằng “Đêm đông ”
.
Sau đó ông theo kháng chiến
tập kết ra Bắc . Ở ngoài Bắc trong thời gian
chống Pháp ông viết bản
“ Bình Trị Thiên khói lửa ” ,
soạn nhạc cho các điệu múa của các vở kịch
“ Chim gâu ” , “ Tấm Cám ”, “ Múa ô ”, “
Chàm rông ” . Nhạc phẩm “ Bài ca trên núi ”
ông viết cho phim “ Vợ chồng A Phủ ”.
Sau một thời gian tu nghiệp
tại CHDC Đức ông trở về nước làm giám đốc
Nhạc viện Hà Nội và tiếp tục sang tác . Ông
có những tác phẩm về khí nhạc như “ Lý
hoài nam ”, “ Buôn làng vào hội ”, “ Quê
hương ”. Trong thời gian ở Đức ông có sáng
tác khí nhạc như “ Ngày hội non sông ”, “
Rhapsodie 2 ”, “ Trở về đất mẹ ”. Bản giao
hưởng “Đồng khởi ” của ông được trình diễn ở
Leipzig ( CHDC Đức ) năm 1971.
Cho dù các tác phẩm của nhạc
sĩ Nguyễn Văn Thương có uyên bác đến đâu đi
nữa rất ít người biết đến . Đa số người VN
chỉ biết đến ông qua nhạc phẩm “Đêm đông ”
mà thôi .
Đêm đông xa trông cố hương
buồn lòng chinh phu
Đêm đông bên sông ngẩn ngơ
kìa ai mong chồng
Đêm đông thi nhân lắng nghe
tâm hồn tương tư
Đêm đông ca nhi đối gương ôm
sầu riêng bóng
Đêm đông ta lê bước chân
phong trần tha hương
Có ai thấu tình cô lữ đem
đông không nhà .
Hoàn cảnh đưa đẩy nhạc sĩ
Nguyễn Văn Thương sáng tác bài ca bất hủ này
đã được chính tác giã kể lại cho nhạc sĩ
Trương Quang Lục như sau :
“ Sau khi đỗ Thành Chung ở
Huế tôi ra Hà Nội học để thi Tú Tài . Dịp
Tết Nguyên đán năm 1939 , không có đủ tiền
để về quê ăn Tết , đêm giao thừa tôi đi lang
thang khắp phố phường Hà Nội dưới trời mưa
phùn lạnh buốt , không một bóng người qua
lại trên đường . Qua ga Hàng Cỏ nghe tiếng
còi vang lên trong đêm khuya càng thêm nhớ
nhà da diết . Dọc phố Khâm Thiên một vài căn
nhà vẫn còn sáng đèn .Nghe tiếng chân qua
đường, một cô gái bước ra nhìn , thất vọng
quay vào , ghé mình soi gương treo cạnh cửa,
đưa tay vuốt mái tóc. Trời đã khuya, tôi trở
về phòng trọ, gió lùa qua khe cửa rít lên
từng hồi suốt đêm. Tôi trăn trở không ngủ
được, nghĩ đến cuộc đời bất hạnh của những
người nghèo khổ, tha hương trong đêm đông
lạnh lẽo. Và bài hát “Đêm đông ” ra đời
trong đêm ấy.
2 - NHẠC SĨ NGUYỄN HỮU BA
Ông sinh năm 1914 tại làng
Đạo Đầu , huyện Triệu Phong , tỉnh Quảng Trị
và mất năm 1997 tại Saigon , hưởng thọ 83
tuổi . Tuy sinh ra tại Quảng Trị nhưng suốt
cuộc đời và sự nghiệp của ông đã gắn liền
với cố đô Huế .
Với bút hiệu Đạo Tâm , ngoài
tân nhạc ra ông là một nhà nghiên cứu , một
nhạc sư cổ nhạc VN . Ông biết sử dụng nhiều
loại nhạc khí cổ truyền khác nhau , là người
có công phát triển và bảo tồn nền cổ nhạc
miền Trung . Năm lên 8 tuổi ông bắt đầu
học đàn . Năm 16 tuổi ông đã hòa nhạc cổ thu
vào dĩa Beka của Đức .
Năm 1932 ông áp dụng ký âm
pháp Tây phương vào cổ nhạc VN ở Huế . Công
trình của ông rất được nhiều người tán
thưởng . Năm 1938 ông đậu thủ khoa đàn nhị .
Tháng 8 năm 1945 sau khi Việt Minh lên nắm
chính quyền ông về quê Quảng Trị . Nhưng
cuộc đời của ông chỉ có duyên nợ với đất
Thần Kinh nên năm 1950 ông trở lại Huế .
Cũng năm này ông thành lập Viện Tỳ Bà nhằm
phục hưng quốc nhạc VN , bảo tồn nhiều loại
nhạc khí cổ truyền , tàng trữ sách vở về âm
nhạc cũng như những tài liệu thu thanh quí
giá . Chỉ cần vào cửa Thượng Tứ , rẻ trái
khoảng một trăm thước ta sẽ thấy Viện Tỳ Bà
của nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba . Ông được triều
đình Huế tặng thưởng huy chương Long Bội
Tinh và vinh tặng chức Hàn lâm viện Đãi
chiếu . Sau 1954 ông vào Nam , dạy tại
trường Quốc Gia Âm Nhạc Saigon , làm khoa
trưởng lý thuyết các trường đại học Vạn Hạnh
, Saigon , Huế . Sau đó ông trở về làm giám
đốc trường Quốc Gia Âm Nhạc Huế . Sau biến
cố Tết Mậu Thân ( 1968 ) Viện Tỳ Bà bị tàn
phá , gia đình ông dời vào Saigon . Sau năm
1975 gia đình ông thành lập một cơ sở nhỏ
chuyên sản xuất các loại đàn cổ rất tinh vi
ở quận Phú Nhuận , đồng thời ông cùng người
con gái lớn là nhạc sĩ Tuệ Quang mở lớp dạy
đàn tranh , học sinh theo học rất đông .
Nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba là người có công
truyền bá cái tinh hoa của nền quốc nhạc về
nhiều phương diện như trình diễn , khảo cứu
, cổ động và giáo dục . Ông đã đào tạo được
nhiều học trò nổi tiếng trong ngành cổ nhạc
như Phạm Thúy Hoan ( Saigon ) , Phương
Oanh ( Paris ) , Quỳnh Hạnh ( Paris ) .
Tác phẩm ông để lại cho hậu
thế cũng khá nhiều . Về tân nhạc gồm có các
nhạc phẩm như : “ Quảng đường mai ( 1940
) ”, “ Xuân xuân ( 1947 ) ” , “ Lửa rừng
đêm ( 1947 ) ” , “ Thu khói lửa ( 1950 ) ”
, “ Tiếng hát quân Nam ( 1950 ) ” , “Ánh
dương trời Nam ( 1951 ) ”. Về các tác phẩm
nghiên cứu và giáo dục gồm có : “ Tự học
đàn nguyệt ( 1940 ) ” , “ Vài thiên kiến về
âm nhạc ( 1950 ) ” , “ Bản đàn tranh (
1951 ) ” , Nhạc pháp quốc học ( 1960 ) ”,
“Đàn tỳ bà ( 1962 ) ” , “Đàn độc huyền (
1962 ) ” , “Đàn nhị huyền ( 1962 ) ” , “
Bài ca Huế ( 1962 ) ” , “ Phương pháp học
đàn tranh ( 1962 ) ” , “ Dân ca VN ( 1961 )
” . Năm 1966 thu thanh tài liệu nhạc Huế (
nhạc Cung đình và nhạc Phật giáo ) cùng với
Ca Huế cho cơ quan UNESCO vào dĩa 33 vòng
đặt tên là VIETNAM 1. Năm 1971 thu thanh
VIETNAM 2 do ông cung cấp tài liệu với sự
trợ giúp của nhạc sĩ Trần Văn Khê . Năm
1998 cả hai dĩa VN1 và VN2 được hãng đĩa
Rounder Records ở Mỹ tái bản dưới hình thức
CD .
3 - NHẠC SĨ VĂN GIẢNG
Nhạc sĩ Văn Giảng sinh ngày
12 tháng 05 năm 1924 tại Huế trong một gia
đình có truyền thống âm nhạc . Ông nội của
ông là một nhạc sĩ cổ nhạc . Lúc còn nhỏ ông
học đàn mandoline . Khi lên trung học thấy
người ta đàn guitare ông rất thích . Có giai
thoại kể rằng thuở đó trong khu phố của ông
có một người biết đàn guitare , ông đến xin
học nhưng ông thầy này ra điều kiện là phải
mua tặng cho ông ta một cây đàn guitare mới
. Nhà nghèo làm sao có tiền mua đàn để tặng
, ông phải đành ở nhà tự học . Nhưng sau môt
thời gian tài nghệ sử dụng đàn guitare cùng
kiến thức về âm của ông đã vượt qua ông thầy
và chính ông này lại đến nhờ ông chỉ bảo
thêm . Năm 1949 ông sáng tác bài “ Thúc
quân ” một bản nhạc hùng rất được nhiều
người ưa thích .
Cùng năm này ông cho ra đời
bài “ Ai về sông Tương ” với bút hiệu Thông
Đạt . Nhạc phẩm này được thính gìả cả nước
tiếp đón một cách nồng nhiệt qua các đài
phát thanh , riêng đài Pháp Á chọn làm bài
hát hay nhất trong năm 1949 và được tái bản
6 lần không kể những lần in
tại hải ngoại sau 1975 . Hiện
nay nhạc phẩm này được đánh giá là một trong
10 bài hát hay nhất trong âm nhạc VN . Có
một giai thoại khác về nhạc sĩ Văn Giảng với
bài “ Ai về sông Tương ” như sau : “
Trong các thập niên 40 , 50 ở Huế có nhà
xuất bản Tinh Hoa nổi tiếng chuyên xuất bản
các nhạc phẩm của các nhạc sĩ trong nước .
Một hôm ông Tăng Duyệt , giám đốc nhà xuất
bản , nói với nhạc sĩ Văn Giảng đại khái
rằng ông chỉ biết làm nhạc hùng chứ không
biết làm nhạc trữ tình như các nhạc sĩ khác
vì trước đó Văn Giảng chỉ sáng tác nhạc hùng
mà thôi . Ông im lặng không nói gì cả . Về
nhà ông lặng lẽ sang tác bài “ Ai về sông
Tương ” và gởi đến các đài phát thanh trong
nước . Ông Tăng Duyệt nghe bài hát hay quá
muốn xuất bản nhưng không biết Thông Đạt là
ai . Một hôm nhạc sĩ Đỗ Kim Bãng và nhà văn
Lữ Hồ đến nhà Văn Giảng chơi , thấy bản
thảo của bài hát này và nói cho ông Tăng
Duyệt biết . Ông này liền lái xe chạy đến
nhà nhạc sĩ thương lượng ký hợp đồng xuất
bản . Thời đó các thanh niên đều thuộc bài
này và thường hay hát nghêu ngao :
“ Ai có về bên bến
sông Tương ,
nhắn người duyên dáng tôi thương ,
sao đành nỡ dứt tơ vương ….” .
Trong hai thập niên 50-60 ông
là giáo sư âm nhạc tại các trường trung học
ở Huế như Quốc Học, Hàm Nghi, Trường đào tạo
giáo viên tiểu học và trưởng ban nhạc đài
phát thanh Huế . Trong thời gian này ông cho
xuất bản tập nhạc “ Hát mà học ” gồm 10 bài
hát dành cho thiếu nhi. Ông được học bổng du
học ngành nhạc tại Hawai và Bloomington .
Năm 1956 ông thành lập ban
hoà tấu Việt Thanh gồm các nhạc cụ cổ
truyền như tỳ , nhị , độc huyền , nguyệt ,sáo
vv… và ông sáng tác cho ban này bản hòa tấu
“ Ai đưa con sáo sang sông ” dài 60 phút .
Ngoài ra ông còn cho xuất bản sách “ Kỹ
thuật hòa âm ” dày 350 trang .
Năm 1969 ông vào Nam , dạy
tại trường QGAN Saigon và soạn hòa âm cho
hai hãng dĩa Asia và Sóng nhạc . Ông dược
Bộ Văn Hóa cử làm Trưởng phòng học vụ Nha Mỹ
thuật , đảm trách học vụ các trường âm nhạc
Saigon , Huế và các trường Cao đẳng Mỹ thuật
.
Năm 1970 ông được Huy chương
vàng giải Văn học Nghệ thuật của Tổng thống
VNCH với bản “ Ngũ tấu khúc ” ( Quintet
for flute and strings ) . Ông còn được dề cử
làm giám đốc nghệ thuật điều hành Đoàn văn
nghệ VN gồm 100 nghệ sĩ tân , cổ nhạc và vũ
do nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ phụ trách cùng ban
vũ cổ truyền do nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba đảm
trách tham dự Hội Chợ Quốc Tế ở Osaka Nhật
Bản .
Ngoài tên Văn Giảng với các
bài ca hùng tráng như “ Thúc quân ” , “Lục
quân VN ” ( bài hát này dược các quân trường
ở miền Nam chọn làm bài ca nhịp bước cho các
tân binh mới nhập ngũ ) , “Đêm Mê Linh ” , “
Quân hành ca ”, “ Qua đèo ”, “ Nhảy lửa ” ,
ông còn có bút hiệu Thông Đạt với các nhạc
phẩm trữ tình như “ Ai về sông Tương ” ,
“Đôi mắt huyền ”, “ Hoa cài mái tóc ”, “
Thương tà áo bay ” , “ Tình em biển rộng
sông dài ” , “ Xin đừng bỏ nhau ” , “ Xin
đừng chờ em nữa ” , “ Năm nay em mấy tuổi ”
và bút hiệu Nguyên Thông với các ca khúc
Phật giáo như “ Từ Đàm quê hương tôi ” , “
Mừng Đản sanh ” , “ Ca Tỳ La Vệ ” , “ Vô
thường ” , “ Hoa cài áo lam ” , “ Bao la vô
tận ” ,” Bờ mê bến giác ” , “ Buông xả ” ,”
Dòng sinh diệt ”, “Đời sống Đức Phật ” ,”
Giả hợp ” , “ Hãy tự giác ” , “ Mong tỉnh
ngộ ” , “ Tâm bệnh ” , “ Tìm đâu xa ” , “ Vũ
khí chơn tâm ” .
Sau 1975 ông kẹt lại ở Saigon
và có mở lớp dạy nhạc tại đường Phạm Văn Hai
, gần chợ Ông Tạ , quận Tân Bình . Năm 1981
ông vượt biên đến đươc Natuna của Nam Dương
và để cám ơn hòn đảo đã cho ông dừng chân
trên đường đi tìm tự do ông sáng tác bản “
Natuna người tình đầu ”. Hiện giờ ông đang
định cư tại Thành phố Foolscray , bang
Victoria , nước Úc . Ông là một nhạc sĩ có
tài , nhạc phẩm của ông phong phú , đa dạng
. Ông đã đóng góp nhiều cho nền âm nhạc VN
nhưng không hiểu tại sao các Trung Tâm sản
xuất DVD ca nhạc lại nỡ quên đi không làm
DVD về sư nghiệp âm nhạc của ông .
4 - NHẠC SĨ ƯNG LANG
Người nhạc sĩ đầu tiên của
đất Thần Kinh mang dòng máu hoàng tộc là Ưng
Lang . Ông tên thật là Nguyễn Phước Ưng Lang
, sinh năm 1919 tại Huế . Ông chuyên về Hạ
uy cầm ( guitare hawaienne ) một loại đàn
rất thông dụng thời bấy giờ . Ông là tác
giả những nhạc phẩm như “ Chiều về thôn Vỹ
” , “ Nhạc lòng ” , “ Chiều tiễn biệt ” và
nhất là ca khúc “ Mưa rơi ” viết chung với
Châu Kỳ đã đưa tên tuổi ông đến với những
người yêu nhạc VN . Tác phẩm “ Mưa rơi ” là
kết quả của mối tình đầu đau thương của tác
giả . Sau khi tốt nghiệp Trường Công chánh
Huế ông được bổ nhiệm về Sở Lục Lộ tỉnh
Nghệ An đặt ngay tại thị xã Vinh . Lúc ấy
ông 21 tuổi . Ông được gia đình bà chị có
cửa hàng buôn bán tại Vinh cho một căn
phòng để ở . Phòng ông có cửa sổ nhìn sang
dãy nhà đối diện bên kia đường . Chiều
chiều sau khi đi làm về ông thường mở cửa sổ
cho mát và lấy đàn ra lả lướt vái bài cho đỡ
buồn . Không ngờ tiếng đàn Hạ Uy cầm du
dương của ông lại lọt đến tai của các nghệ
sĩ của thị xã . Họ mời ông gia nhập “ Ban
Nhạc Mang Hưng ” mà đa số nhạc sĩ là người
Việt gốc Hoa . Nhưng đối với ông tiếng đàn
lọt vào tai các nhạc sĩ của thị xã không
quan trọng bằng lọt vào tim của một hoa khôi
sống với cha mẹ trong căn nhà đối diện với
nhà chị ông . Ta hãy nghe nhạc sĩ Lê hoàng
Long nói về giai nhân , người yêu đầu tiên
của nhạc sĩ Ưng Lang như sau :
“ Ưng Lang đưọc biết mỹ danh
người đẹp là Ch.L. tuổi vừa đôi chín . Từ đó
, hàng ngày khi màn đêm buông xuống , Ưng
Lang lại lấy đàn ra nắn phím buông tơ .
Tiếng đàn Hạ Uy cầm réo rắt , ngân nga vọng
sang tận bên kia đường rồi vang trong nhà
người đẹp . Ngày nào như ngày ấy , đúng giờ
là tiếng đàn lại nỉ non , thánh thót khiến
mỹ nhân nhẹ nhàng thướt tha , uyển chuyển ,
lúc ẩn , lúc hiện sau tấm màn cửa đong
đưanhư đang uốn lượn trong vũ khúc trước làn
gió nhẹ . Tay nắn phím , tay buông tơ nhưng
mắt Ưng Lang vẫn kín đáo nhìn nên thấy cảnh
đẹp như Hằng Nga trong vũ khúc Nghê Thường .
Tức cảnh sinh tình , tiếng đàn Ưng Lang lại
càng thêm thánh thót và nghe thấy buồn man
mác hơn . Nếu ai nhìn thấy được cảnh ấy ,
khách quan cũng nhận định giai nhân và nghệ
sĩ tình trong như đã , mặt ngoài còn e .
Ưng Lang mừng thầm cho rằng đây là mối lương
duyên tiền định nên ngày ngày chải chuốt từ
y phục đến
tiếng đàn ” .
Sau đó hai người yêu nhau
bằng một mối tình thật đằm thắm và thơ mộng
. Họ cùng thề non hẹn biển sống với nhau đến
hết cuộc đời . Nhưng có ai biết được chữ ngờ
. Đôi tình nhân đâu biết cuộc tình nồng thắm
của họ sẽ phải tan vỡ vì chiến tranh . Tháng
3 năm 1945 Nhật đảo chánh Pháp và ra lệnh
cho tất cả các công chức phải trở về nguyên
quán . Ưng Lang cũng không thoát khỏi cái
lệnh quái ác ấy nên phải khăn gói trở về làm
việc tại Sở Công Chánh Thừa Thiên . Buổi
tiễn đưa đôi tình nhân bịn rịn chia tay lòng
đau như cắt . Về đến quê nhà lại gặp cảnh
mưa rơi rả rich suốt ngày , bầu trời u ám ,
nỗi buồn càng thêm da diết . Trong hoàn cảnh
đó Ưng Lang sang tác nhạc phẩm “ Mưa rơi ”
và bài hát này đã trở thành ca khúc vượt
thời gian :
Mưa rơi , chiều nay vắng
người
Bên thềm gió lơi , mơ bóng
ngàn khơi
Mưa rơi , màn đêm xuống rồi
Mây sầu khắp nơi , thương nhớ
đầy vơi
Mưa rơi , đìu hiu giữa trời
Đêm dài vắng ai , thương nhớ
nào nguôi .
Sau ngày chia tay hai người
thường xuyên viết thư cho nhau và chờ ngày
sum họp . Nhưng tháng 8 năm 1945 chiến
tranh nổ ra , không biết gia đình của Ch.L.
trôi giạt phương trời nào và từ đó đôi tình
nhân mất hẳn liên lạc . Vài năm sau Ưng Lang
lập gia đình , sống và làm việc tại Huế .
Trước 1975 ông là giáo sư trường Quốc Gia
Âm Nhạc Huế . Mãi đến 20 năm sau ông mới
được tin Ch.L. ,người yêu cũ , đã chết trong
chiến tranh .
5 - NHẠC SĨ CHÂU KỲ
Nhạc sĩ Châu Kỳ sinh ngày 05
– 11 – 1923 tại làng Dưởng Mong , tỉnh
Thừa Thiên trong một gia đình sống bằng nghề
cổ ca nên ông rất am hiểu về cổ nhạc miền
Trung . Học xong chương trình tiểu học tại
trường Tiểu học Dưởng Mong , ông lên Huế
học tại trường Pháp Việt . Ông có giọng hát
rất hay nên bạn bè rất thích nghe ông hát .
Thấy ông hay hát
những bài do Tino Rossi ca trong các dĩa
của Pháp nên ông đưọc sư huynh Pétrus Thiều
dạy cho nhạc lý Tây phương . Khởi đầu ông
học đàn mandoline. Câu chuyện vui ông kể
trên sân khấu Thúy Nga là mối tình đầu lãng
mạn của lứa tuổi dậy thì thiếu suy nghĩ khi
ông muốn dùng tiếng đàn mandoline để chinh
phục trái tim người đẹp Kim Anh , con gái
của vị thượng thư , để rồi bị giai nhân từ
trên lầu tạt nước xuống khiến ông phải ôm
đàn chạy trốn . Nhưng thế sự thăng trầm ,
cuộc đời dâu biển , mười mấy năm sau ông gặp
lại người đẹp tại Saigon trong cảnh nghèo
khổ , xác xơ trong khi ông đang là một
ca,nhạc sĩ nổi tiếng . Sự gặp gỡ mang nhiều
kịch tính này làm ông ngậm ngùi nghĩ đến
những đổi thay của đời người và ông viết nên
nhạc phẩm “ Giọt lệ đài trang ” .
Lúc ông còn theo học bậc
trung học thì chị của ông là Châu Thị Minh
thành lập đoàn ca kịch Huế lấy tên là Hồng
Thu . Đoàn rất cần ca sĩ trẻ nên bà chị tha
thiết yêu cầu ông giúp . Vì gia đình nghèo
ông do dự không biết nên tiếp tục học hay là
đi giúp chị . Cuối cùng ông bỏ học đi theo
chị , trước là để giúp chị trong lúc khó
khăn , sau là có tiền giúp cha mẹ . Từ đó
ông theo đoàn đi lưu diễn khắp nơi . Thoạt
đầu đoàn sang Lào trình diễn tại Savannakhet
đến Thakhet rồi thủ đô Vạn Tượng . Sau
khi gặt hái đưọc kết quả tốt đẹp ở Lào ,
doàn làm một vòng lưu diễn các tỉnh VN .
Đoàn ra Bắc xong trở lại Huế rồi vào Nha
Trang . Tại đây trong số khán giả thường
trực có một nữ sinh tuyệt đẹp , con nhà tử
tế được nhiều chàng trai trong tỉnh theo
đuổi , cô vẫn dửng dưng như không . Nhưng
khi thấy chàng ca sĩ Châu Kỳ đẹp trai với
giọng hát trầm ấm , quyến rủ , tim cô rung
động rồi si mê chàng ca sĩ . Châu Kỳ cũng
ngất ngây trước vẻ đẹp của cô nữ sinh lãng
mạn và hai người yêu nhau . Nhưng thuở ấy
cái thành kiến “ xướng ca vô loại ’ vẫn bám
rễ trong đa số gia đình VN nên cha mẹ của
Đoàn Thị Sum , tên cô nữ sinh , cấm không
cho cô gặp Châu Kỳ nữa . Thất vọng vì tình
cô uống thuốc độc tự tử và chết ngày 10 –
12 – 1942 . Ông quá đau khổ muốn chết theo
người yêu nhưng các nghệ sĩ trong đoàn ra
sức an ủi , can ngăn , nhắc cho ông biết còn
bổn phận đối với cha mẹ và giađình nên ông
mới khuây khỏa phần nào . Do đó ta mới biết
được chút ít tại sao những bản tình ca của
ông hồi đó đều là nhạc buồn như “ Khúc ly
ca ’ , “ Xin làm người tình cô đơn ” vv …
Nghe tin Huế bị bão lụt , ông trở về Huế
thăm gia đình . Nhưng khi về đến quê mẹ
Thanh Hà ông thấy quang cảnh xác xơ , ruộng
đồng bị tàn phá , ngôi nhà cũ đã bị san bằng
và mẹ ông bị lũ lụt cuốn trôi đi mất . Hoàn
cảnh khổ đau này khiến ông viết lên bài “
Trở về ” , bài hát tiêu biểu cho sự nghiệp
âm nhạc của Châu Kỳ :
Về đây buồn trông cánh chim
bay
Về đây buồn nghe gió heo may
Về đây đâu còn phút sum vầy
Đâu còn thắm niềm say
Lạnh lung ngắm trời mây ….
Năm 1947 ông vào Saigon hát
cho đài phát thanh Pháp Á trong ban “ Thần
Kinh ” của nhạc sĩ Mạnh Phát với các ca sĩ
thời đó như Minh Diệu , Minh Tần , Mộc Lan
, Linh Sơn , Phan Đức … và ban “ Tiếng
Thùy
Dương ” do chính ông làm trưởng ban . Trong
thời gian này ông và ca sĩ Mộc Lan yêu nhau
và trở nên vợ chồng . Cặp danh ca Mộc Lan –
Châu Kỳ rất nổi tiếng thưòng xuất hiện
trong các chương trình đại nhạc hội và
chương trình phụ diễn tân nhạc tại các rạp
chiếu bóng .
Cuối năm 1949 cặp ca sĩ
Châu Kỳ - Mộc Lan được ông Thái Văn Kiểm lúc
ấy là Giám đốc Thông tin Huế mời về hát cho
Đài phát thanh Huế . Tình nghệ sĩ thường hay
mong manh , năm 1952 cặp vợ chồng Châu Kỳ -
Mộc Lan chia tay nhau . Ông buồn bã một
mình trở lại Saigon . Đây cũng là thời gian
buồn khổ khác của Châu Kỳ và ông đã viết lên
những bản nhạc buồn như “ Từ giã kinh thành
” , “ Mưa rơi ” ( viết chung với Ưng Lang )
… và ông định cư tại Saigon cho đến ngày
nay. Ông tiếp tục hát cho các Đài phát
thanhQuốc Gia, Pháp Á và đi trình diễn trong
các đại nhạc hội khắp nơi trong nuớc . Sau
đó ông bị động viên và phục vụ trong đoàn
Văn nghệ quân đội .
Năm 1955 Châu Kỳ kết hôn với
Kha Thị Đàng , một cô gái miền Nam . Hôn lễ
được cử hành tại nhà hang Trương Ký ở Chợ
Lớn . Trong số khách tham dự có rất nhiều ca
, nhạc sĩ như Phạm Duy , Phạm Dình Chương ,
Hoài Trung , Thái Thanh , Thái Hằng , Khánh
Ngọc , Dương Thiệu Tước , Trần Văn Trạch ,
Thu Hồ , Văn Phụng , Châu Hà , Hoàng Trọng ,
Thẩm Oánh …Đôi vợ chồng sống rất hạnh phúc
và có bốn người con , ba trai , một gái .
Tất cả dều lập gia đình .
Ngoài những bản nhạc nêu trên
Châu Kỳ còn có những nhạc phẩm sau :
Khi ánh trăng vàng lên khơi , Chiều trên đồi
thông , Cố đô yêu dấu , Đừng nói xa nhau ,
Em không buồn nữ chị ơi , Khuya nay anh đi
rồi , Lá vàng khóc lá xanh rơi , Miền Trung
thương nhớ , Giữa lòng đất mẹ , Tôi chưa có
mùa xuân , Đón xuân này nhớ xuân xưa , Sao
chưa thấy hồi âm , Cánh nhạn hồi âm , Con
đường xưa em đi , Cuối đường kỷ niệm , Nước
mắt quê hương , Em sắp về chưa , Vào mộng
cùng em , Được tin em lấy chồng …
Sau 1975 ông bán căn nhà cũ
và chiếc xe Vespa dọn qua Tân Qui , Nhà Bè
trong căn nhà ọp ẹp với chiếc xe đạp cũ .
Tại đây ông đã sáng tác bài “ Bóng mát Tân
Qui ” lời ca Của Kiên Giang , “ Một mình với
ghi-ta ” , “ Giọt đàn với giọt lệ ” , “ Bỏ
phố lên rừng ” , “Đôi dép ngược ” …
6 - NHẠC SĨ LÊ MỘNG BẢO
Nhạc sĩ Lê Mộng Bảo sinh năm
1923 tại Huế trong một gia đình nho giáo gốc
Minh Hương . Năm 1940 lúc lên 17 tuổi ông đã
bắt đầu sống tự lập. Ông ra Bắc làm việc
cho tờ báo Tiếng Dân của cụ Huỳnh Thúc Kháng.
Ông học chữ Hán với cụ Phan Bội Châu , học
nhạc với nhạc sĩ Đặng Thế Phong và Nguyễn
Văn Thương .
Năm 1944 ông trở về Huế và
làm việc tại Sở Bưu điện Huế .
Năm 1945 ông thôi việc và mở
một tiệm bán sách trên đường Trần Hưng Đạo.
Ông xuất bản nhạc phẩm “ Quảng dường mai ”
của Nguyễn Hữu Ba và từ đó ông đi luôn vào
ngành xuất bản âm nhạc . Vì công việc làm ăn
nên ông thường hay đi Hà Nội , do đó ông
quen biết nhiều nhạc sĩ sống ở miền Bắc như
Văn Cao, Phạm Duy , Nguyễn Xuân Khoát, Bùi
Công Kỳ, Lưu Hữu Phước, Nguyễn Đình Phúc
vv…Trong thời gian này,theo phong trào chống
Pháp ông sáng tác bản nhạc đầu tay “ Không
làm nô lệ ” .
Name 1948 ông cọng tác với nhà
xuất bản Tinh Hoa của ông Tăng duyệt và
chính ông đã giúp ông Tăng Duyệt phát triển
thành nhà xuất bản nhạc phẩm uy tín nhất VN
.
Năm 1952 ông Tăng Duyệt cử
ông vào Saigon lập chi nhánh nhà xuất bản
Tinh Hoa 2 để xuất bản những nhạc phẩm của
các nhạc sĩ miền Nam .
Năm 1956 nhà xuất bản Tinh
Hoa Huế ngưng hoạt động vì tình hình chính
trị thay đổi. Tại Saigon một mình Lê Mộng
Bảo khai trương nhà xuất bản lấy tên là Tinh
Hoa Miền Nam. Ông có tài kinh doanh nên
ngoài việc xuất bản ông còn phân phối nhạc
phẩm đến tận các nhà sách và các nhà dù bán
nhạc trên các lề đường Saigon. Nhà xuất bản
nhạc phẩm của ông là nhà xuất bản VN đầu
tiên có tên trong danh mục các nhà xuất bản
nhạc quốc tế “ Worldwide music trade
directory ” .
Ông có nhiều nhạc phẩm sáng
tác như “Đổi thay ” ,” Mùa ve sầu ” , “
Phận nghèo ”, “ Thân phận ”, “ Bọt bèo ”, “
Xa anh rồi ”, “ Không hiểu tại sao ”, “ Sao
lừa dối em ” . Ông có sáng tác chung với
các nhạc sĩ khác như Văn Phụng , Mạnh Phát ,
Tô Kiều Ngân , phạm Mạnh Cương … Ông cũng
có bài tân cổ giao duyên “ Thân phận ” soạn
chung với soạn giả cải lương Quế Chi . Bản
này được thu thanh vào dĩa qua giọng ca của
Minh Vương và Thanh Kim Huệ .
Ông cùng các nhạc sĩ Lê
Thương, Nguyễn Hữu Ba, Phạm Duy , Xuân Phát
…thành lập Hội nhạc sĩ VN .
Năm 1973 ông cùng với nhac sĩ
Văn Giảng , các ca sĩ Mộc Lan , Kim Tước
phụ trách lớp nhạc lý tại Viện khoa học
giáo dục . Ông cùng với nhạc sĩ Song Ngọc
phụ trách chương trình “ Hoa tình thương ”
trên Đài truyền hình VN và đi lưu diễn tại
các tiền đồn xa xôi . Ông cũng là chuyên
viên báo chí , thời Hoàng Đức Nhã làm Bộ
trưởng Thông tin và Dân vận . Ông phụ trách
tờ báo “ Lẽ sống ” ở Saigon .
Sau 1975 ông đi học tập cải
tạo đến 1981. Năm 1993 ông sang Hoa Kỳ theo
diện HO và đang định cư tại Cali .
7 - NHẠC SĨ LÊ MỘNG NGUYÊN
Nhạc sĩ Lê Mộng Nguyên sinh
năm 1930 tại Huế trong một gia đình trí thức
và yêu văn học ,nghệ thuật .
Ông có người anh tên Lê Mộng
Hoàng là một ca sĩ có giọng ca Ténor nổi
tiếng trong thập niên 40 của Đài phát thanh
Huế .
Nhưng ông anh thích làm diễn viên điện
ảnh hơn làm ca sĩ . Sau khi du học ở Pháp về
ngành điện ảnh , ông trở về VN đạo diễn phim
“ Bụi đời ” và Lê Mộng Nguyên viết nhạc cho
phim .
Nhạc sĩ Lê Mộng Nguyên sáng
tác nhạc hồi còn rất trẻ nhưng mãi đến năm
1948 ông mới cho ra mắt nhạc phẩm “ Mừng
Khánh Đản ” nhân dịp khánh thành chùa Từ Đàm
Huế , “ Vó ngựa giang hồ ” , “ Mùa lúa mới ”
, “ Trường ca quân tiến ” …
Khi ông 19 tuổi ông yêu tha
thiết một cô gái Huế tên M. và chính người
đẹp này là nguồn cảm hứng để ông viết bài “
Trăng mờ bên suối ” ( 1949 ) . Sáng tác xong
, ông gởi ngay cho nhạc sĩ Thu Hồ lúc ấy
đang là một ca sĩ nổi danh của đài phát
thanh Pháp Á , mặc dù trước đó hai người
chưa hề quen biết nhau . Thu Hồ đã thu thanh
bản nhạc này với ban nhạc Trần Văn Lý . Từ
Huế nhạc sĩ Lê Mộng Nguyên nghe giọng hát
cũa Thu Hồ trình bày nhạc phẩm của mình với
cái radio của người hàng xóm tên Lê Văn Hy
qua làn sóng điện của đài Pháp Á . Từ đó ông
tiếp tục gởi thêm những bài khác cho Thu Hồ
và hai người trở nên đôi bạn thân cho đến
cuối cuộc đời .
Năm 1950 ông sang Pháp du
học về ngành luật . Sau khi đỗ tiến sĩ ông
dạy tại Đại học Paris về Luật hiến pháp ,
Khoa học Chính trị và kinh tế .
Năm 1996 ông về hưu và được
bầu vào Hàn Lâm Viện Khoa học hải ngoại Pháp
.
Nnhững nhạc phẩm của Lê Mộng
Nguyên gồm có :
1948
- Mừng Khánh Đản , Mùa lúa
mới , Vó ngựa giang hồ .
1949
- Trăng mờ bên suối , Một
chiều thương nhớ , Trọng Thủy Mỵ Châu ,
Chiều thu , Mưa Huế .
1950
- Hoàng Hoa Thôn , Nhớ Huế ,
Bài thơ Huế , Cô gái Huế , Về chơi thôn Vỹ
Dạ , Đôi mắt nhung , Mơ Đà Lạt , Ly hương .
1951
- Bên dòng sông Seine , Xuân
tha hương , Lá thư cho mẹ , Trời Âu .
1957 - Bụi đời , Người đã
trở về . 1980 – Xuân về nhớ mãi quê hương .
1988 - Chiề vàng trên chợ Đông Ba . 1991 –
Quê tôi . 1992 - Kiếp giang hồ.
8 - NHẠC SĨ THU HỒ
Nhạc sĩ Thu Hồ tên thật là
Hồ Thu sinh ngày 14 – 10 – 1919 tại làng
Tân Mỹ ( gần Thuận An ) , tỉnh Thừa Thiên .
Ông có khiếu về âm nhạc và thơ lúc mới 12
tuổi . Ông là ca sĩ đầu tiên đưa những bài
hát VN đầu tiên đến với thính giả , là gạch
nối giữa những bài hát Pháp lời Việt do cô
Kim Thoa , Thanh Tùng , Tư Chơi khở xướng
và các bài hát hoàn toàn VN . Thời gian theo
học tại trường trung học Pellerin , ông ở
trọ tại nhà ông bác của nhạc sĩ Trần Văn Lý
và được nhạc sĩ truyền dạy cho nhạc lý Tây
phương . Ông rất thích hát những bài mà Tino
Rossi hay hát . Ông cũng là ca sĩ đầu tiên
hát trước công chúng tại Hội Chợ Huế bài “
La chanson du gondolier ” .
Năm 1943 ông làm trưởng ga
xe lửa Dầu Giây . Xa quê , xa gia đình , ông
nhớ nhà , rồi nhớ đến hai câu ca dao “
Chiều chiều ra đứng ngõ sau / Trông về quê
mẹ ruột đau chín chiều ” khiến ông nhớ đến
mẹ và viết nên bài “ Quê mẹ ” . Tuy là tác
phẩm đầu tay nhưng lại là bài hát tiêu biểu
trong sự nghiệp âm nhạc của ông .
Năm 1947 ông tham gia vào ban
“ Thần Kinh nhạc đoàn ” với ban nhạc của
nhạc sĩ Trần Văn Lý và các ca sĩ như Châu
Kỳ , Mộc Lan , Minh Diệu , Minh Tần , Kim
Nguyên , Mạnh Phát , Thu Thu , Vĩnh Lợi vv
…
Năm 1948 đài Pháp Á mở thêm
chương trình tân nhạc VN và mời ông cọng tác
. Từ đó tiếng hát cũng như tên tuổi của ông
đã vang đi khắp nước . Ngoài đài PhápÁ sau
này đổi tên thành Đài phát thanh Saigon ông
còn hát cho đài Quân Đội . Thu Hồ không chỉ
là ca sĩ mà còn là nhà soạn kịch và diễn
viên sân khấu . Ông đã soạn trên một trăm vở
kịch và cũng là diễn viên trong các vở kịch
như “ Hai chàng một áo ” , “ Thầy lang bất
đắc dĩ ” vv… Thẫm Thúy Hằng đã mua những
kịch bản của ông để diễn trên Đài truyền
hình .
Năm 1954 ông đi quân dịch ,
làm Trưởng ban tuyên truyền lưu động Đệ I
Quân khu đi ủy lạo binh sĩ ở các tiền đồn
biên giới . Trong dịp này ông làm bài “ Khúc
ca Đồng Tháp ” .
Năm 1957 mãn hạn quân dịch ,
ông gia nhập ban văn nghệ “ Vì dân ” của
Tổng nha Cảnh sát Quốc gia .
Từ 1959 đến 1970 ông là
giáo sư âm nhạc các trường trung học ở
Saigon như Nguyễn Trường Tộ , Nguyễn Bá
Tòng , Thiên Phước , Thánh Thomas … Ông là
thành viên của SACEM , hội âm nhạc của Pháp
, trụ sở đặt tại Paris .
Thu Hồ còn là nhà thơ đưọc
nhiều người mến mộ . Ông cho ra mắt tập thơ
mang tên “Ánh bình minh ” năm 1965 .
Sau năm 1975 ông kẹt lại ở
Saigon . Năm 1990 Mỹ Hà con gái lớn của ông
và chồng là tài tử điện ảnh Trần Quang bảo
lãnh gia đìng ông sang Hoa Kỳ . Ông sống tại
Santa Ana với người con thứ là ca sĩ Mỹ
Huyền cho đến cuối đời .
Năm 1993 ông và nhà thơ luật
sư Ðỗ Đức Hậu được Hội Thi sĩ quốc tế (
International Society Of Poets ) bầu là
“Đại sứ thi ca hòa bình ” trong hội nghị thi
ca họp tại Hoa Thịnh Đốn .
Để đánh dấu nhạc phẩm “ Quê
mẹ ” tròn 50 tuổi , một đêm ca nhạc mang tên
“Đêm quê mẹ ” được tổ chức tại vũ trường
Ritz tối 14 – 10 – 1993 tại Anaheim .
Trong dịp này ông cho ra mắt tuyển tập nhạc
“ Hoa bốn mùa ” gồm 22 bản nhạc ưng ý nhất
của ông như “ Quê mẹ ” , “ Tiếng sáo chiều
quê ” , “ Sầu ly biệt ” , “ Nhớ nhau ” , “
Tím cả rừng chiều ” , “ Cô nữ sinh Đồng
Khánh ” , “ Tà áo Trưng Vương ” , “ Mái tóc
em gái Gia Long ” , “ Trăng huyền diệu ” vv…
Một tuần trước khi ông từ giã
cõi đời , các bạn bè đã tổ chức một đêm dạ
vũ tương trợ dành cho ông tại Vũ trường
Ritz . Theo ý nguyện của ông các bạn trích
ra 567 $ góp vào quỹ tượng đài Chiến sĩ tự
do .
Ông mất ngày 19 – 05 – 2000
, hưỏng thọ 81 tuổi .
9 - NHẠC SĨ NGÔ GANH
Nhạc sĩ Ngô Ganh chuyên về
đàn Piano . Ông không để lại gì nhiều về sự
nghiệp âm nhạc của ông , chỉ vỏn vẹn vài ba
bài nhạc như “ Con chim non ’ , “ Chu Văn
An ” , “ Trần Quốc Toản ”, “ Mưa dầm ” , “
Hương Bình ” , “ Hương Giang dưới trăng ” …
Người dân xứ Huế chỉ biết ông là một nhà
giáo và nhất là lối sống bình dân ,giản dị ,
hoạt bát , lạc quan mang tính khôi hài của
ông . “ Thầy Ganh đi mô rứa hè ? ” Đó là
câu chào hỏi chân tình mà người dân Huế dành
cho ông . Mọi người đều gọi ông là “ thầy
Ganh ” vì ông là giáo sư âm nhạc trường
Đồng Khánh và Khải Định , hai trường Trung
học lớn tiêu biểu cho đất Thần Kinh thời bấy
giờ . Dưới thời Tổng thống Ngô Đình Diệm ông
giữ chức Giám đốc Đài phát thanh Huế . Ông
là người có công thành lập một đội ngũ nhạc
sĩ tân và cổ nhạc cho đài .
Ông còn là nhà hoạt động
chính trị kín đáo . Ban đầu ông gia nhập
những tổ chức theo khuynh hướng của cụ Phan
Bội Châu . Một thời ông là hội viên của nhóm
Tinh Thần do Bác sĩ Nguyễn Tăng Nguyên lãnh
đạo . Khi ông Trần Văn Lý lên nắm chánh
quyền thì nhạc sĩ Ngô Ganh có mặt trong
danh sách đảng Cần lao Cách mạng , ở Huế
do ông Nguyễn Chí Kỉnh lãnh đạo ( không
phải đảng Cần lao Nhân vị của ông Ngô Đình
Nhu ) . Hai nhóm Nguyễn Tăng Nguyên và
Nguyễn Chí Kỉnh đã bí mật quyên góp tiền bạc
giúp ông Ngô Đình Diệm trên đường bôn ba hải
ngoại .
Người dân xứ Huế sống thân
mật với Nhạc sĩ Ngô Ganh vì ông không ham
danh lợi và nhất là cái lối sống khác người
của ông . Lối sống này đã ảnh hưởng đến
những người sống cận kề ông . Ta hãy nghe
ông Tôn Thất Lan , học trò cũ của Nhạc sĩ
Ngô Ganh nói về cách sống và làm việc của
ông :
“ Tôi kẻ những dòng nhạc và
viết lên đấy những nốt đen , trắng , tròn …
đầu tiên lên bảng đen bằng phấn trắng vào
năm 1950 , lúc tôi theo học lớp Nhất ( lớp 5
bây giờ ) trường Thượng Tứ , Huế . Thầy dạy
nhạc của chúng tôi bấy giờ là nhạc sĩ Ngô
Ganh . Đầu thầy cắt ngắn , đã len lỏi nhiều
đốm trắng , bạc . Thầy vui tươi , hoạt bát
va rất hóm hỉnh . Đó là phong cách rất “ lạ
lùng ” của thầy cô giáo thời đó . Dạy và học
là hai việc làm song song tuyệt đối nghiêm
chỉnh , không hề có chút đùa nghịch hay dí
dỏm nào . Thầy , trò nhìn ngắm nhau bằng
những đôi mắt “đứng tròng ” trong thế người
thẳng đứng . Trong không khí khá nặng nề u
uất đó - ảnh hưởng còn vang vọng lại của một
quan niệm phong kiến xa xưa , sự xuất hiện
linh hoạt , đầy ấn tượng của thầy Ganh quả
là một sự kiện lạ lung làm tất cả những cậu
bé phải “ làm mặt nghiêm ” chúng tôi ngỡ
ngàng và vô cùng …sung sướng . Một vài chúng
tôi mơ hồ cảm nhận rằng đời thật sự là hồn
nhiên , là vui tuơi mà sao chúng tôi lại bị
bắt phải quên nụ cười !
… Trên bục giảng , thầy Ganh
không giảng mà hát , vừa đi vừa làm điệu bộ
…. Sau thời gian “ quen biết ” ngắn ngủi ,
thầy trò xa nhau và chúng tôi cũng quên mất
thầy . Rồi sau đó nghe thầy làm Quản đốc Đài
phát thanh Huế . Ở đây thầy lại cũng rất dí
dỏm , thầy dùng chữ “ deux couleurs ” ( hai
màu ) để phê bình một giọng ca không rõ ràng
tự nhiên , khi khan khan khi the thé . Đặc
biệt là thầy có minh họa rất tài tình và độc
đáo “ 36 nụ cười ”, trong đó có nụ cười “
rửa đọi ” , nụ cười “ mở nút chai ”, nụ
cười “ Xé áo ” thật độc đáo mà ai nghe
cũng cười .
Có nhiều giai thoại về thầy
Ganh , hay đúng hơn về tính hay diễu cợt ,
châm biếm mà nhiều người không quên . Lối
đặt tên của thầy thật ngẳng đời làm người
nghe - những người trong cuộc - rất khó chịu
, bị “ chơi ” mà không nói được . Thầy nuôi
hai con chó , một con mang tên “Ỷ thế ” ,
một con “ Ba láp ” ( bậy bạ ) . Khi có
những người khách là quan viên chức không
được mời … , thầy thường kêu hai con chó ra
la rầy “Đồ ỷ thế ” ( cậy quyền ) , “Đồ ba
láp ” .
Nhà thầy có hai người giúp
việc đều mang tên rất đẹp , rất khuê các như
Tuyết Mai , Kim Ngọc , hay đại loại như thế
trong khi con gái của thầy thì lại mang
những tên rất bình dị , dân dã như Xoài ,
Mít , Ổi …khách rất đổi ngạc nhiên khi được
giới thiệu con gái và người giúp việc của
thầy , tình thế thật tréo cẳng ngỗng ……
Món quà thầy Ngô Ganh biếu
cho các thế hệ mai sau là một lối sống bình
dị , lạc quan , một phong cách tự nhiên hài
hước giúp cho mọi người vào thập niên 40 ,
50 quên đi , bỏ đi một quan niệm sai lầm của
xã hội phong kiến , trong đó người nghệ sĩ -
người làm đẹp cuộc đời – là “ xướng ca vô
loại ”. Đáng buồn và đáng giận thay ”.
Ông mất năm 1980 trong cảnh
nghèo khổ , trong sự quên lãng của nhiều
người .
10 - NHẠC SĨ ĐỖ KIM BẢNG
Nhạc sĩ Đỗ Kim Bảng gốc
Quảng Nam , sinh năm 1932 tại Huế .
Ông là
bạn đồng khoá với nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương
từ trường trung học Khải Định cho đến trường
Cao đẳng Sư phạm và Đại học Văn khoa Hà Nội
. Ông học đàn với nhạc sĩ Lê Quang Nhạc ,
học lóm nhạc lý Tây phương với nhạc sĩ Văn
Giảng và học thêm cổ nhạc với nhạc sĩ
Nguyễn Hữu Ba . Những năm học trung học ông
tham gia sinh hoạt văn nghệ trong trường và
trong Gia đình Phật tử với các bạn như
Phạm Mạnh Cương , Hồ Đăng Tín , Hoàng Nguyên
, Kiêm Đạt , Diên Nghị , Tạ Ký ( thơ ) ,
Minh Tuyền ( nhiếp ảnh ) , Lữ Hồ ( văn học
) …
Năm 1949 ông sáng tác ca khúc
“ Mục Kiền Liên ” và trình bày trong mùa Vu
Lan tại Huế .
Năm 1951 ông làm bài “ Mùa
thi ” được ban hợp ca Thăng Long dựng thành
nhạc cảnh và trình diễn nơi ở trong nước .
“ Hôm nay mùa thi , bao nhiêu
người đi
Xe rộn ràng , lớp ồn ào ,
niềm vui vấn vương .
Thi ơi là thi , sinh mi làm
chi ,
“ bay ” nghẹn ngào , “ bám ”
ồn ào , buồn vui vì mi ” .
Sau đó được ban Gió Nam của
nghệ sĩ Trần Văn Trạch cùng ban Thăng Long
trình diễn “ Mùa thi ” tại Hà Nội năm 1954
. Ban Thăng Long đã làm bài hát này nổi
tiếng và đưa tên tuổi ông đến giới hâm mộ
nhạc VN .
Năm 1953 ông ra Hà Nội học
tại Đại học Văn khoa và Cao đẳng Sư phạm .
Trong thời gian này ông học thêm âm nhạc với
nhạc sĩ Hùng Lân . Cuối năm 1954 ông di
cư vào Saigon .
Năm 1955 ông tốt nghiệp Cao
đẳng Sư Phạm , được bộ Giáo dục biệt phái
sang bộ Quốc phòng và dạy tại trường Võ bị
Quốc Gia Đà Lạt từ 1955 đến 1960 .
Trong thời gian này ông sáng tác bản “ Khúc
hát ngày mai ” được ban Thăng Long trình bày
trên đài phát thanh Saigon và đài Quân đội .
Năm 1960 về lại bộ Giáo dục
ông dạy tại trường Trần Lục rồi Nguyễn Du .Trong
năm này ông cho ra đời bài “ Mưa đêm ngoại
ô ” và năm 1963 bài “ Bước chân chiều Chủ
nhật ” do Thanh Thúy hát .
Năm 1965 ông nhập ngũ khóa
21 trường Võ bị Thủ Đức . Ra trường với cấp
bậc chuẩn úy , ông làm việc dưới quyền của
thi sĩ Tô Kiều Ngân , lúc ấy là đại úy
Trưởng phòng và thi sĩ Tô Thùy Yên , trung
úy phụ tá Trưởng phòng của Phòng Văn nghệ
Cục Tâm lý chiến . Tại đây ông cùng làm việc
với các nhạc sĩ khác như Lam Phương , Duy
Khánh , Trầm Tử Thiêng , Song Ngọc , Phạm
Minh Cảnh , Anh Việt Thu vv… Cùng phục vụ
trong Cục Tâm lý chiến ông cũng đã gặp và
quen biết các nhạc sĩ cùng các văn , nghệ sĩ
như Trần Trịnh , Trần Thiện Thanh , Mai
Trung Tỉnh , Tường Linh , Du Tử Lê , Phạm Lê
Phương , Tạ Tỵ ….Cũng trong thời gian này
ông viết bản trường ca “ Những người đi giử
quê hương ” được Ban hợp ca Quân đội trình
bày tại rạp Thống Nhất nhân ngày Quân lực
VNCH năm 1969 , dưới sự điều khiển của nhạc
sĩ Vũ Minh Tuynh và Ngô Mạnh Thu .
Năm 1969 ông được biệt phái
về lại bộ Giáo dục và tiếp tục dạy học cho
đến tháng 4 – 1975. Sau đó ông đi học tập
cải tạo đến năm 1978 .
Năm 1980 ông vượt biên rồi
được định cư tại Hoa Kỳ . Ông đi học lại
nghề cũ và dạy học ở Boston cho đến 1999
th2 về hưu . Trong thời gian ở Mỹ ông phổ
nhạc bài thơ “ Tháng ba đi hành quân ” của
Trần Hoài Thư .
Ngoài những nhạc phẩm nêu
trên ông còn những sáng tác khác như
: Mưa đêm ngoại ô , Sương
đêm , Vòng tay giữ trọn ân tình , Vui dựng
gia đình , Xin dìu nhau đến tình yêu .
11 - NHẠC SĨ HOÀNG NGUYÊN
Nhạc sĩ Hoàng Nguyên tên
thật là Cao Cự Phúc sinh ngày 03 – 01 –
1932 tại Quảng Trị , nhưng lớn lên và học
hành tại Huế . Ông mất ngày 21 - 08 -
1973 tại Saigon trong một tai nạn xe cộ
lúc ông 41 tuổi là lúc tài năng sáng tác
đang lên .
Ông học trung học tại trường
Quốc Học Huế , đậu Cử nhân Anh văn tại Đại
học Saigon , dạy anh văn và âm nhạc tại Đà
Lạt , Vĩnh Long , Saigon .
Ông phụ trách ban nhạc đại
hòa tấu “ Hương thời gian ” trên Đài truyền
hình VN và chương trình “ Tiếng thời gian
” trên Đài phát thanh Saigon .
Ông có nhiều kỷ niệm với Đà
Lạt và hai nhạc phẩm nói về miền cao nguyên
này là “ Ai lên xứ hoa đào ” , “ Bài thơ
hoa đào ” trở thành tác phẩm tiêu biểu của
ông . Hai tác phẩm này hiện nay được nữ ca
sĩ Ánh Tuyết trình bày rất thành công , đã
làm rung động những tâm hồn yêu nhạc . Nhạc
đã hay mà lời lại như thơ
. Ai lên xứ hoa đào dừng chân
bên hồ nghe chiều rơi
Nghe hơi gió len vào hồn
người chiều xuân mây êm trôi
Thông reo bên suối vắng lời
dặt dìu như tiếng tơ
Xuân đi trong mắt biếc lòng
dạt dào nên ý thơ
Nghe tâm tư mơ ước chuyện Đào
nguyên đẹp như chuyện ngày xưa …
Về xứ Huế ông đã để lại cho
đất Thần Kinh nhạc phẩm “ Tà áo tím ” một
bài hát trữ tình lãng mạn , êm đềm , thơ
mộng và đã được ca sĩ Hà Thanh ru vào
lòng người :
Một chiều lang thang bên dòng
Hương Giang
Tôi gặp một tà áo tím nhẹ
thấp thoáng trong nắng vương
Màu áo tím sao luyến thương ,
màu áo tím sao vấn vương
Rồi lòng bâng khuâng theo
màu áo ấy , màu áo tím hôm nào
Tình quyến luyến ban đầu ,
chập chờn tâm tư màu áo thoáng chiêm bao …
Những ca khúc khác của Hoàng
Nguyên gồm có : Anh đi mai về , Anh đi về
đâu , Bài Tango riêng cho em , Cho người
tình lỡ , Đường nào em đi , Đường nào lên
Thiên thai , Duyên nước tình trăng , Em chờ
anh trở lại , Lá rụng ven sông , Lời dặn dò
, Sao em không đến , Thuở ấy yêu nhau .
12 - NHẠC SĨ NHỊ HÀ
Nhạc sĩ Nhị Hà tên thật là Lê
Quang Mại , sinh ngày 24 – 08 – 1935 tại
Quảng Bình nhưng lớn lên tại Huế và học
trường trung học Khải Định . Sau khi đỗ Tú
tài 2 ông vào Saigon . Sáng tác của ông
không nhiều nhưng mọi người đều biết tên ông
qua nhạc phẩm “ Mẹ tôi ” và nhất là từ khi
ca sĩ Như Quỳnh hát bài này trên sân khấu
Thúy Nga .
Mẹ tôi tóc xanh nhuộm bạc
tháng ngày
Mẹ tôi đau buồn nặng chĩu đôi
vai
Bao năm nuôi đàn trẻ thơ nhỏ
dại
Cầu mong con mình có một ngày
mai …
Nhạc phẩm thứ hai của Nhị Hà
được nhiều người biết đến lá bài “ Trở về
thôn cũ ” nói lên cảnh quê hương điêu tàn đổ
nát vì sự tàn phá của chiến tranh trong thời
chống Pháp :
Nhưng sao hôm nay tôi trở lại
quê xưa
Tuy con sông xưa vẫn êm đềm
uốn quanh
Còn đâu đồng xanh , còn đâu
gia đình
Còn đâu bóng hình mẹ già mến
yêu …
Ngoài hai tác phẩm tiêu biểu
trên ông còn sáng tác các bài như : Đừng
trách người đi , Lá thư xuân , Nhớ một mùa
hoa …
13 - NHẠC SĨ LÊ CAO PHAN
Nếu không có bài hát “ Phật
giáo Việt Nam ” được dùng làm bài ca chính
thức cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống
nhất thì rất ít người VN biết đến nhạc sĩ
Lê Cao Phan .
Phật giáo Việt Nam thống nhất
Bắc , Nam , Trung từ đây
Một lòng chúng ta tiến lên vì
Đài Sen …
Trước đây ông chỉ sáng tác
những ca khúc vui tươi dành cho thiếu nhi ,
cho học sinh nên thường những ai làm nghề
nhà giáo mới biết đến ông . Các bài hát vui
của ông dành cho thiếu nhi gồm có : Bài ca
tình bạn , Ca mùa học vui , Hai chú gà con ,
Nhi đồng múa ca , Ra chơi , Tập tầm vông ,
Tiếng còi đánh thức , Vui đi học .
14 - NHẠC SĨ LÊ QUANG NHẠC
Hiện nay người ta chỉ biết
nhạc sĩ Lê Quang Nhạc là người Huế . Ông là
giáo sư âm nhạc của vài trường trung học ở
cố đô , đồng thời là nhạc sĩ dương cầm trong
ban nhạc của Đài phát thanh Huế trong thập
niên 50 . Tác phẩm duy nhất của ông còn lại
đến bây giờ là nhạc phẩm “ Xa quê ” .
15 - NHẠC SĨ PHẠM MẠNH CƯƠNG
Nói đến nhạc sĩ Phạm Mạnh
Cương , người yêu nhạc nhớ đến “ Thu ca ”
, một trong những ca khúc được thu thanh
nhiều nhất từ trong nước đến hải ngoại và
cũng là nhạc hiệu quen thuộc của những
chương trình ca nhạc của ông tại các Đài
phát thanh và truyền hình Saigon trước năm
1975 .
Nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương sinh
quán tại Huế ,tỉnh Thừa Thiên . Ông theo học
bậc trung học tại trường Khải Định , đỗ Tú
tài 2 năm 1953 . Sau đó ông ra Hà Nội tiếp
tục việc học , tốt nghiệp Cao đẳng Sư phạm
và Cử nhân Văn khoa 1955 .
Từ 1955 đến 1958 ông là giáo
sư tại trường trung học Nguyễn Đình Chiểu
, Mỹ Tho .
Từ 1958 đến 1975 ông là giáo
sư môn triết và môn văn tại trường trung học
công lập Pétrus Ký và các trường tư thục lớn
ở Saigon như Văn Học , Nguyễn Văn Khuê , Bồ
Đề , Hưng Đạo , Văn Lang , Lê Bảo Tịnh ,
Huỳnh Thị Ngà , Thượng Hiền …
Từ 1960 đến 1975 ông vừa dạy
học vừa hoạt động âm nhạc . Ông là trưởng
ban các chương trình “ Hoa thời đại ” của
Đài Phát thanh Saigon , “ Tiếng hát hậu
phương ” , “ Nghệ sĩ và chiến sĩ ” của Đài
Tiếng nói Quân đội , “ Chương trình Phạm
Mạnh Cương ” của Đài truyền hình . Ông còn
là giám đốc trung tâm “ Tú Quỳnh ”, một
trung tâm băng nhạc quy mô đầu tiên tại
Saigon .
Năm 1980 ông rời Việt Nam và
định cư tại thành phố Montreal , tỉnh
Quebec , Canada . Ông tiếp tục hoạt động văn
nghệ : thành lập ban nhạc Phạm Mạnh Cương
với hai người con là nhạc sĩ Phạm Mạnh Quỳnh
và Phạm Lê Diễm Phúc . Đồng thời ông là chủ
biên nguyệt san Thẩm Mỹ từ năm 1994 đến nay
.
Một số nhạc phẩm nổi tiếng
của ông đã xuất bản và thu thanh tại VN
trước 1975 : Thung lũng hồng , Mắt lệ cho
người tình , Tóc em chưa úa nắng hè , Thương
hoài ngàn năm , Tình yêu đã mất , Giã từ cố
đô , Về thăm cố đô , Loài hoa không vỡ ,
Tháng bảy mưa ngâu , Sầu ly biệt , Nhạc khúc
mừng xuân , Thu về trong mắt em …
Tháng 04 – 2003 nhạc sĩ
Phạm Mạnh Cương đã được trung tâm Thúy Nga
mời xuất hiện trên băng Vidéo “ Paris By
Night 70 ”, chủ đề “ Thu ca ” cùng với hai
nhạc sĩ Lê Dinh và Trường Sa .
16 - NHẠC SĨ TRỊNH CÔNG SƠN
Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn sinh
ngày 28 – 02 – 1939 tại Lạc Giao ( cao
nguyên miền Trung ) trong một gia đình trung
lưu gốc Thừa Thiên . Ông lớn lên tại Huế và
đỗ Tú tài ban triết học ở trường Chasseloup
Laubat Saigon . Ông tự học nhạc , học sáng
tác không qua một trường lớp nào cả . Trong
thập niên 60 nhạc của ông xuất hiện như một
ngôi sao sáng trong vòm trời âm nhạc VN .
“Ướt mi ” là tác phẩm đầu tay được sáng tác
năm 1958 . Ông mất ngày 01- 04 – 2001 tại
Saigon .
Tác phẩm âm nhạc của ông có
trên 600 ca khúc với nội dung gồm 3 khuynh
hướng : tình yêu , quê hương ( mà người ta
thường gọi là nhạc phản chiến ) và thân phận.
Nhạc của ông có nhiều cái hay cái lạ ,
không cầu kỳ , không ngoại lai , không ồn ào
, luôn luôn giữ được bản sắc dân tộc . Nhạc
của ông không bài nào giống bài nào cũng
không tương tự với một nhạc phẩm nào của
người khác . Mỗi bài hát của T.C.Sơn có một
nét độc đáo riêng . Ngay cả lời ca trong
nhạc T.C.S. cũng có một sắc thái riêng không
giống với các nhạc sĩ khác . Lời ca của TCS
không sống sượng theo lối tả chân , không
văn chương theo lối mòn sáo rổng hay rập
khuôn theo những qui ước có sẵn . TCS có lối
sử dụng ngôn ngữ một cách khéo léo , mới lạ
để diễn tả một thứ tình cảm lang lâng , mơ
hồ phải nhờ cảm tính người ta mới hiểu được
. Ví dụ TCS nói đến tình yêu đôi lứa mà
không dùng đến chữ “ yêu ” vì đã có bàn tay
, mái tóc , đôi mắt … nói hộ cho rồi :
Mưa vẫn mưa bay trên từng
tháp cổ
Dài tay em mấy thuở mắt xanh
xao
Nghe lá thu mưa reo mòn gót
nhỏ
Đưòng dài hun hút cho mắt
them sâu …
( DIỄM XƯA )
Lùa nắng cho buồn vào tóc em
Bàn tay xanh xao đón ưu phiền
Ngày xưa sao lá thu không
vàng
Và nắng chưa vào trong mắt em
…
( NẮNG THỦY TINH )
Mỗi bài ca là một bài thơ .
Ngoài chất thơ ra trong nhạc TCS còn mang
chút triết lý về thân phận con người , hạnh
phúc , khổ đau , lẽ vô thường của kiếp sống
:
Bao nhiêu năm làm kiếp con
người
Chợt một chiều tóc trắng như
vôi
Lá úa trên cao rụng đầy
Cho trăm năm vào chết một
ngày …
( CÁT BỤI )
Có điều gì gần như niềm tuyệt
vọng
Sông bao lần sông đã ra đi
Những ngàn năm trôi đến bây
giờ
Sông ra đi hay mới bước về …
( GẦN NHƯ NIỀM TUYỆT VỌNG )
Ôi tiếng buồn rơi đều
Nhìn lại mình đời đả xanh rêu
…
( TÌNH XA )
TCS đã từ giã cõi đời , ông
đã trở về với “ Cát bụi ” , “ Một cõi đi về
” của kiếp con người vì ông cũng chỉ là một
“Đóa hoa vô thường ”. Đường trần ông đã đi
qua , “ Dấu chân địa đàng ” ông để lại là
một gia tài âm nhạc tuyệt vời gồm có các
tuyển tập :
1967 – Ca khúc Trịnh Công Sơn
- Tình Khúc Trịnh Công Sơn - Ca khúc da
vàng .
1968 – Kinh Việt Nam
1969 – Ca khúc da vàng 2 -
Ta phải thấy mặt trời .
1972 – Như cánh vạc bay -
Cỏ xót xa đưa - Khói trời mênh mông - Tự
tình khúc - Phụ khúc da vàng .
1973 - Lời đất đá cũ - Nhân
danh việt Nam .
1989 - Một cõi đi về .
1991 – Em còn nhớ hay em đã
quên - Cho con .
1992 - Lời của dòng sông -
Khói trời mênh mông 2 .
1993 – Bên đời hiu quạnh -
Trong nỗi đau tình cờ - Thuở ấy mưa hồng .
1995 - Những bài ca không năm
tháng .
1999 - Tuyển tập ca khúc
Trịnh Công Sơn 1 , 2 , 3 , 4 , 5 , 6 .
Ngoài các nhạc sĩ chào đời ở
Huế hoặc lớn lên và học hành tại Huế còn có
những nhạc sĩ tuy không sinh ra ở Huế nhưng
có một thời gian sống hoặc làm việc ở đây ,
rất nặng lòng với đất cố đô và đã sáng tác
nhiều ca khúc bất hủ dành cho xứ Huế . Trong
số nhạc sĩ này ta có Duy Khánh , Hoàng Thi
Thơ , Dương Thiệu Tước vv…
17 - NHẠC SĨ DUY KHÁNH
Nhạc sĩ Duy Khánh tên thật
là Nguyễn Văn Diệp , sinh năm 1936 tại làng
An Cư , huyện Triệu Phong , tỉnh Quảng Trị .
Ông thuộc dòng họ quan phụ chánh đại thần
Nguyễn Văn Tường triều Nguyễn . Tuy không
sống ở Huế nhưng Quảng Trị rất gần với cố đô
nên ông thường lui tới với các bạn bè ở đây
. Ông rất nặng tình với xứ Huế và là người
nhạc sĩ có nhiều nhạc phẩm nói về quê hương
miền Trung của ông như : Ai ra xứ Huế ,
Sầu cố đô , Nén hương yêu , Sao không thấy
anh về , Thương về miền Trung , Bao giờ em
quên , Biết trả lời sao , Lối về đất mẹ ,
Huế đẹp Huế thơ .
Những ngày cuối đời ông sống
tại Hoa Kỳ và cho xuất bản hai tập nhạc gồm
những nhạc phẩm được sáng tác từ trước đến
nay . Tập 1 mang tựa đề “ Huế đẹp và thơ ”
, tập 2 “ Nỗi niềm riêng ”.
Ngày 10– 01–2003 một buổi
dạ vũ mang tên “ Tạ tình tiếng hát và dòng
nhạc Duy Khánh ” được tổ chức tại vũ trường
Majestic , thành phố Huntington Beach , quận
hạt Orange County để nhớ công lao của ông đã
đóng góp cho nền âm nhạc VN .
18 - NHẠC SĨ HOÀNG THI THƠ
Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ sinh
ngày 01 – 07 – 1928 tại làng Bích Khê ,
phủ Triệu Phong , tỉnh Quảng Trị . Ông học
trung học tại Huế . Ông theo kháng chiến một
thời gian , sau đó vào Saigon lập nghiệp và
sinh hoạt âm nhạc cho đến 1975 .
Sự đóng góp
to tát của ông cho nền âm nhạc VN mọi người
đều biết . Vì quê ở miền Trung nên nhạc của
ông cũng mang âm hưởng tiếng hò giọng hát
miền Trung . Riêng về xứ Huế ông có những
nhạc phẩm như “ Chiều cố đô ” , “ Tâm tình
gửi Huế ”…
Năm 1975 khi biến cố 30 -04
xãy ra lúc đó ông đang hướng dẫn đoàn văn
nghệ VN trình diễn ở Nhật . Sau đó ông định
cư tại Hoa Kỳ và mất ngày 23 – 09 – 2001
tại Glendale , Nam Cali , thọ 74 tuổi .
19 - NHẠC SĨ DƯƠNG THIỆU
TƯỚC
Ông là nhạc sĩ gốc miền Bắc
nhưng nổi danh qua hai bản nhạc miền Trung
: ‘ Tiếng xưa ” và “Đêm tàn Bến Ngự ” .
Ông sinh ngày 15 – 05 – 1915 tại làng Vân
Đình , huyện Sơn Lãng , phủ Ứng Hòa , tỉnh
Hà Đông trong một gia đình nho học truyền
thống .
Năm 1930 ông gia nhập nhóm Myosotis
là nhóm nhạc sĩ đầu tiên khởi xướng tân
nhạc VN . Ông chủ trương viết “ nhạc Tây
theo điệu ta ” . Trong thời gian ông và vợ
là ca sĩ Minh Trang vào Huế thăm bạn bè
đồng thời nghiên cứu về dân ca Huế và cổ
nhạc miền Trung , ông đã dùng ký âm pháp Tây
phương ghi lại một cách chính xác những câu
hò , điệu hát của địa phương như hò mái đẩy
, ca Huế , nhạc cung đình … Cái âm hưởng
buồn mênh mông của cổ nhạc Huế bắt nguồn từ
tiếng hát ai oán của người dân Chàm mất nước
đã ảnh hưởng đến người nhạc sĩ miền Bắc và
ông đã sáng tác bản “ Tiếng xưa ”. Rồi
trong một đêm trăng ông cùng các bạn nghệ sĩ
tổ chức đi thuyền ca hát trên sông Hương ,
một thú vui tao nhã của các văn nhân ,nghệ
sĩ lúc bấy giờ . Đêm về khuya , mọi người
đều đã an giấc trong khoang thuyền . Không
ngủ được , ông ra mũi thuyền ngồi ngắm trăng
. Giữa cảnh im lặng trời nước mênh mông ,
nhìn những con đò cập bến sát bên nhau khiến
ông bâng khuâng , cảm hứng dạt dào ông liền
lấy sổ tay ra ghi chép và viết nên nhạc phẩm
“Đêm tàn Bến Ngự ”. Hai ca khúc bất hủ này
trở thành tác phẩm tiêu biểu ông .
NGUYỄN VĂN CHÁNH
Montréal
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Chuyện tình các nhạc sĩ Tiền
chiến của Lê Hoàng Long .
Ca khúc vượt thời gian của
Trương Quang Lục
Internet với các tài liệu
của : Lê Dinh , Phạm Anh Dũng , Biển nhớ ,
Hư vô . |